TỨ BIẾN DU NIÊN
Lục thập tứ biến du niên, là đem mệnh quái phối hợp với trạch quái thì ra được du niên biến quái. Đây là phương thức biến đổi quẻ để quyết định hung cát. Dưới đây là bài ca “Khẩu quyết” về lục thập tứ biến du niên.
- Nhất biến thượng Sinh khí (Thượng là 1)
- Nhì biến trung Ngũ quỷ
- Tam biến hạ Diên niên
- Tứ biến trung Lục sát (Trung là giữa)
- Ngũ biến thượng Hoạ hại
- Lục biến trung Thiên y
- Thất biến hạ Tuyệt mệnh (Khác nhau hào dưới)
- Bát biến trung Phục vị.
Chú ý :
Sinh khí, Ngũ quỷ, Diên niên, Lục sát, Hoạ hại, Thiên y, Tuyệt mệnh và Phục vị là Du niên biến quái ứng với tám hướng.
Trong mệnh quái phân ra hào thượng, trung và hạ tính từ trên xuống dưới.
Mệnh Quái là quẻ KHÔN ta biến đổi quẻ |
||
| LẦN GIEO HÀO | Phối hào | Kết quả Phối |
| Gieo lần 1 | Lần thứ nhất, hào thượng Âm chuyển thành Dương, quẻ Khôn sẽ đổi thành quẻ Cấn | Đáp án: Sinh khí
Lý giải: Như vậy xét theo Hậu Thiên bát quái, hướng Đông Bắc là hướng Sinh khí đối với gia chủ. |
| Gieo lần 2 | Thành Quẻ Tốn – hướng Đông Nam | Đáp án: Ngũ Quỷ |
| Gieo lần 3 | Lần thứ 3 thành quẻ Càn – hướng Tây Bắc | Đáp án: Diên Niên (Phúc Đức) |
| Gieo lần 4 | Thành quẻ ly | Đáp án: Lục sát |
| Gieo lần 5 | Thành Quẻ: Chấn | Đáp án: Họa Hại |
| Gieo lần 6 | Thành Quẻ: Đoài | Đáp án: Thiên Y |
| Gieo lần 7 | Thành Quẻ: Khảm | Đáp án: Tuyệt mệnh |
| Gieo lần 8 | Thành Quẻ: Khôn | Đáp án: Phục vị |
Ví dụ I: Cung Càn
Nhất biến thượng Sinh khí.
Lần 1: biến hào trên thành Đoài Sinh Khí
Nhị biến trung Ngũ quỷ
Lần 2: biến hào giữa thành Chấn Ngũ Quỷ
Tam biến hạ Diên niên
Lần 3: biến hào dưới thành Khôn Phúc Đức
Tứ biến trung Lục sát
Lần 4: biến hào giữa thành Khảm Lục Sát
Ngũ biến thượng Họa hại
Lần 5: biến hào trên thành Tốn Họa Hại
Lục biến trung Thiên y
Lần 6: biến hào giữa thành Cấn Thiên Y
Thất biến hạ Tuyệt mạng
Lần 7: biến hào dưới thành Ly Tuyệt Mạng
Bát biến trung Phục vị
Lần 8: biến hào giữa thành Càn Phục Vị
Ví dụ II: Cung Đoài
- Nhất biến thượng Sinh khí.
Lần 1: biến hào trên thành Càn Sinh Khí
- Nhị biến trung Ngũ quỷ
Lần 2: biến hào giữa thành Ly Ngũ Quỷ
- Tam biến hạ Diên niên
Lần 3: biến hào dưới thành Cấn Phúc Đức
Tứ biến trung Lục sát
Lần 4: biến hào giữa thành Tốn Lục Sát
- Ngũ biến thượng Họa hại
Lần 5: biến hào trên thành Ly Họa Hại
- Lục biến trung Thiên y
Lần 6: biến hào giữa thành Khôn Thiên Y
- Thất biến hạ Tuyệt mạng
Lần 7: biến hào dưới thành Chấn Tuyệt Mạng
- Bát biến trung Phục vị
Lần 8: biến hào giữa thành Đoài Phục Vị.
(Lần lượt các cung khác cũng như vậy)
Xuất phát từ Thiên văn học, chòm sao Bắc đẩu thất tinh gồm 7 sao và thêm hai sao phụ Tả Phụ Hữu Bật, vừa chỉ các phương vị, vừa để xác định các thời khắc, các mùa và xác định cát hung của phương hướng. Áp dụng trong Phong thủy, chòm sao này được đặt tên cho các du niên để thuận tiện trong việc luận đoán cát hung (Tương tự các môn cổ học khác, các tính chất thường gán với 1 sao để dễ hình dung). Như vậy, tương ứng với du niên biến quái là một sao cụ thể
Ta có thể dùng bài thơ sau:
- Nhất biến thượng Sinh khí (biến hào trên)
- Nhất biến trung Tuyệt Mệnh (biến hào giữa)
- Nhất biến hạ vi Họa hại (biến hào dưới)
- Thượng nhị biến vi Ngủ quỷ (biến 2 hào trên)
- Thượng hạ biến vi Lục sát (biến 2 hào dưới)
- Tam hào biến vi Diên Niên (biến cả 3 hào)
- Tam hào bất biến vì Phục Vị (không biến hào)

